Thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ

Khám phá
Rate this post

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong thời gian qua, thị trường khoa học và công nghệ đã được hình thành, từng bước hoàn thiện và đạt được những kết quả nhất định. Hiện cả nước có trên 800 trung gian thị trường KH&CN các loại đã được hình thành, trong đó có hơn 20 sàn giao dịch công nghệ đặt tại các địa phương, 1 sàn giao dịch vùng duyên hải Bắc Bộ, 1 cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin KH&CN và công nghiệp hiệu dịch vụ tài sản và nền tảng dữ liệu. Công tác xúc tiến thị trường KH&CN tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh. Giá trị giao dịch hàng hóa khoa học và công nghệ tăng bình quân 20,9% / năm …

Tuy nhiên, theo ông Phạm Đức Nghiêm, Phó Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN), việc phát triển thị trường KH&CN Việt Nam vẫn còn những “nghịch lý”, bên cạnh những kết quả đạt được. . Cụ thể, nhiều hợp đồng đã được ký kết giữa các doanh nghiệp, học viện, trường đại học nhưng không được thực hiện, do có sự khác biệt lớn và chưa thống nhất giữa các quy định pháp luật như Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ. , Luật Giáo dục đại học, Luật Viên chức, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư …

Ông Phạm Đức Nghiêm nêu ví dụ về Nghị định 70/2018 / NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý, sử dụng tài sản công quy định việc xử lý tài sản là kết quả của đề tài, dự án sử dụng ngân sách nhà nước. Theo quy định, kết quả nghiên cứu tạo ra từ ngân sách Nhà nước thuộc sở hữu của Nhà nước. Hầu hết các tổ chức KH&CN nhận được kinh phí từ thương mại hóa đều phải trả lại cho Nhà nước. Doanh nghiệp nhận kết quả nghiên cứu phải hoàn trả 100% giá trị Nhà nước “đầu tư” ban đầu bằng hoặc lớn hơn số tiền Nhà nước đã hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ KH&CN.

Trong khi đó, con đường thương mại hóa từ kết quả nghiên cứu quy mô phòng thí nghiệm sang sản xuất công nghiệp còn rất dài, đòi hỏi đầu tư lớn, rủi ro cao … Quy định hiện hành chưa khuyến khích các nhà khoa học. học chuyển giao, doanh nghiệp chưa “mặn mà” với việc tiếp nhận công nghệ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Mặt khác, thủ tục ủy quyền và định giá kết quả nghiên cứu khá phức tạp.

Hình ảnh minh họa

Một vấn đề khác cần giải quyết là mặc dù nguồn cung cấp công nghệ từ các viện nghiên cứu và trường đại học công lập ở nước ta khá phong phú và đa dạng nhưng lượng hàng hóa KH&CN từ các nhà cung cấp này còn rất khiêm tốn. , rất ít doanh nghiệp (0,3%) chọn chuyển giao công nghệ từ các tổ chức KH&CN công lập (viện nghiên cứu, trường đại học) và cũng rất ít doanh nghiệp (0,6%) chọn chuyển giao công nghệ. công nghệ của các tổ chức KH&CN ngoài công lập.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do phần lớn kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ của các viện nghiên cứu, trường đại học còn ở dạng chưa hoàn thiện, chưa thực sự là “hàng hóa” khoa học và công nghệ cần cứu. thông qua thị trường.

Ngoài ra, còn thiếu các chính sách khuyến khích thương mại hóa, tạo động lực mạnh mẽ cho chủ sở hữu, tác giả các kết quả nghiên cứu, sở hữu trí tuệ cũng như sự gắn kết, hợp tác bền vững giữa các cơ sở. nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, giao dịch mua bán công nghệ hiện nay chủ yếu diễn ra dưới hình thức hợp đồng mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư, trong đó yếu tố chuyển giao công nghệ còn rất hạn chế hoặc chưa có.

Theo ông Phạm Đức Nghiêm, thị trường KH&CN cần được hỗ trợ, tiếp sức để không bị “đóng băng”, mất cân đối cung – cầu, nhất là trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển. Nhà nước không chỉ tạo hành lang pháp lý cho thị trường KH&CN phát triển mà còn đóng nhiều vai trò khác nhau, đó là: Vai trò kích cầu và bên cung công nghệ, bên cầu công nghệ, một số trường hợp tham gia. trực tiếp làm trung gian công nghệ. Vì vậy, nếu không có các phương pháp và công cụ can thiệp thích hợp có thể dẫn đến sự méo mó của thị trường và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

Phạm Đức Nghiêm cho rằng, một nguyên tắc hàng đầu là không có giao dịch công nghệ thì không có thị trường khoa học và công nghệ, vì vậy khoa học và công nghệ không thể hoàn thành sứ mệnh là quốc sách hàng đầu và động lực phát triển kinh tế. .

Để thực hiện nguyên tắc này, cần lấy giao dịch công nghệ và giá trị giao dịch công nghệ làm trọng tâm cho sự phát triển của thị trường KH&CN, bên cạnh đó tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho thị trường phát triển. Ngoài sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước, cần có sự chung tay của các viện, trường, tổ chức, doanh nghiệp… để từng bước tạo ra một thị trường sôi động và cạnh tranh.

Theo TS Tạ Bá Hùng, các chính sách phát triển tổ chức trung gian của thị trường KH&CN chưa tạo động lực để các bên liên quan tham gia phát triển thị trường KH&CN. Trong thời gian tới, để thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển hơn nữa, TS Tạ Bá Hùng cũng bày tỏ mong muốn các tổ chức trung gian không chỉ do nhà nước tạo ra, mà cần có sự tham gia của nhiều tổ chức. và cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức trung gian.

Cùng chung quan điểm này, theo PGS.TS. TS Lê Trung Thành, Viện trưởng Viện Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cần thực hiện hiệu quả, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức trung gian. , từ đó hình thành mạng lưới các tổ chức đủ năng lực kết nối các tác nhân trên thị trường KH&CN.

Đồng thời, cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để xây dựng hạ tầng công nghệ, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức trung gian, trụ cột chính là các sàn giao dịch công nghệ quốc gia và trung ương. Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp quốc gia, tổ chức đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các tổ chức trung gian, hỗ trợ cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, nâng cao năng lực khai thác công nghệ thông tin, sở hữu trí tuệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong và ngoài nước, thúc đẩy việc thực hiện các dịch vụ tư vấn, môi giới, xúc tiến chuyển giao công nghệ, dịch vụ đánh giá, định giá và giám sát. xác định công nghệ.

Leave a Reply

Your email address will not be published.