Suy giảm về triển vọng tăng trưởng tươi sáng của Việt Nam

Khám phá
Rate this post

Công nhân nhà máy may vest nam tại một nhà máy ở Hà Nội, Việt Nam vào ngày 24 tháng 5 năm 2019. (Ảnh: Manan Vatsyayana / AFP via Getty Images)

Theo các tổ chức tài chính toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam có triển vọng sáng sủa hơn hầu hết các nền kinh tế trong khu vực. Sự phục hồi sau đại dịch và kết quả tăng trưởng yếu năm 2021 là những yếu tố hỗ trợ. Dù được nâng hạng, triển vọng tăng trưởng vượt kỳ vọng nhưng ‘mảng tối’ trong bức tranh triển vọng tươi sáng sẽ là những vấn đề không dễ khắc phục …

Triển vọng tươi sáng

IMF: Nâng dự báo tăng trưởng đến năm 2022

Trong báo cáo mới công bố về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2022, IMF đã đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam; một kỳ vọng đi ngược lại xu hướng tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế khác ở châu Á. Lạm phát tương đối thấp (được báo cáo) của Việt Nam trong năm nay cũng là một ngoại lệ so với quy luật chung trong khu vực.

IMF đã nâng dự báo tăng trưởng cho Việt Nam lên 7% vào năm 2022, tăng 1 điểm phần trăm so với dự báo ba tháng trước đó, lần điều chỉnh tăng đáng kể duy nhất giữa các nền kinh tế lớn. ở châu Á. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm ASEAN-6.

WB: Dự báo tăng trưởng GDP khả quan do Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực với Trung Quốc là RCEP

Là một tổ chức toàn cầu, Ngân hàng Thế giới (WB) luôn đưa ra những tuyên bố sáng giá nhằm khuyến khích các nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng. Ngân hàng Thế giới dự báo với việc tham gia RCEP, thu nhập thực tế của người Việt Nam có cơ hội tăng thêm 5%. Sau 8 tháng có hiệu lực, RCEP với sự tham gia của 3 trong 4 nền kinh tế lớn nhất châu Á đã thúc đẩy tăng trưởng trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu, đầu tư, sở hữu trí tuệ và thương mại điện tử giữa hai nước. Các quốc gia thành viên.

(Từ trái qua phải) Lãnh đạo và đại diện các nước Singapore, Lào, Campuchia, New Zealand, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei, Indonesia, Malaysia và Philippines đoàn chụp ảnh trong sự kiện Kinh tế toàn diện khu vực lần thứ 3 Hội nghị thượng đỉnh Đối tác (RCEP) tại Bangkok, Thái Lan, ngày 4 tháng 11 năm 2019. (Ảnh: Manan Vatsyayana / AFP / Getty Images)

Trong đó, đến năm 2035, ba ngành được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh nhất tại Việt Nam, theo dự báo của Ngân hàng Thế giới là da và quần áo (tăng 14,7%), máy móc thiết bị điện (tăng 12,1%), dệt may ( tăng 9%). Trong khi đó, nhiên liệu hóa thạch, sản phẩm gỗ và giấy, dược phẩm cơ bản … sẽ được thu nhỏ.

Nâng cấp của Moody

Ngày 6/9, hãng xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service đã nâng hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ Ba3 lên Ba2, với triển vọng “ổn định”. Moody’s đánh giá, nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, đa dạng hóa xuất khẩu và khả năng tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến chế tạo. .

Kết quả nâng hạng dựa trên kết luận rằng nền tảng tài khóa của Việt Nam được hỗ trợ vững chắc bởi chi phí đi vay được kiểm soát hợp lý, quản lý chính sách tài khóa thận trọng và tính thanh khoản của danh mục nợ Chính phủ. chính phủ được cải thiện. Điều này cũng phản ánh xu hướng của Chính phủ trong việc chuyển dần từ vốn vay ưu đãi nước ngoài sang huy động vốn vay trong nước với chi phí thấp và thời hạn dài hơn.

Đơn hàng sản xuất ngày càng mở rộng

Chỉ số Mở rộng Đơn hàng Nhà sản xuất Việt Nam tiếp tục cải thiện trong bối cảnh chỉ số này đang thu hẹp lại ở Trung Quốc và toàn châu Âu. Chỉ số PMI Sản xuất Việt Nam của S&P Global đạt 52,7 điểm trong tháng 8, tăng so với mức 51,2 điểm trong tháng 7 và báo hiệu sự cải thiện mạnh mẽ về sức khỏe của lĩnh vực sản xuất vào giữa quý. 3 trong năm. Các điều kiện kinh doanh hiện đã được cải thiện trong 11 tháng liên tiếp.

Sản lượng sản xuất lấy lại đà trong tháng 8 sau khi chậm lại vào tháng 7. Giá đầu vào tăng trưởng chậm lại lần thứ hai liên tiếp và là mức tăng yếu nhất trong 27 tháng. tăng chi phí. Tâm lý kinh doanh đã được cải thiện kể từ tháng 7 và cao hơn mức trung bình lịch sử. Khoảng 57% người trả lời khảo sát kỳ vọng sản lượng sẽ tăng trong 12 tháng tới.

Công nhân đang sản xuất mặt nạ bảo hộ trong một nhà máy ở tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào ngày 6 tháng 2 năm 2020. (Nhac NGUYEN / AFP / Getty Images)

Các trang tin tài chính kinh tế nước ngoài cũng đăng tải các bài viết phân tích của các chuyên gia kinh tế khẳng định sự thất bại của nền kinh tế Trung Quốc và khủng hoảng kéo dài do chính sách zero Covid ở nước này đang tạo ra cơ hội. cơ hội nhận vốn đầu tư tốt của Việt Nam đang tháo chạy khỏi Bắc Kinh.

Mặt khác của bức tranh khách hàng tiềm năng

Tăng trưởng cao vì so với cơ sở thấp

Không lạc quan như các tổ chức toàn cầu, nhiều chuyên gia kinh tế trong nước cho rằng tăng trưởng của Việt Nam năm 2022 chưa cao nhưng thực tế đang đạt kết quả cao nhờ so với mức tăng trưởng thấp nhất trong nhiều thập kỷ qua. thế kỷ vào năm 2021 do nền kinh tế ngừng hoạt động do đại dịch.

Trao đổi với PV báo Nhân côngPGS.TS Phạm Thế Anh – Trưởng Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân) – thành viên tổ tư vấn của Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết, dự báo GDP quý III / 2022 sẽ tăng trưởng gấp đôi. Con số so với cùng kỳ là hợp lý vì trong quý III / 2021, kinh tế Việt Nam tăng trưởng âm. Tính cả năm 2021, GDP cả nước chỉ tăng 2,58%. Vì vậy, “Năm 2022, kinh tế Việt Nam cũng ở mức bình thường, không quá tốt nhưng so với nền thấp của năm ngoái thì tốc độ tăng trưởng có thể lên tới hai con số” – ông Phạm Thế Anh nói.

Mặc dù tăng trưởng của Việt Nam được hưởng lợi từ dòng vốn chảy ra từ Trung Quốc và sự phục hồi sau đại dịch, nhưng sự suy yếu tăng trưởng của các thị trường xuất khẩu như Mỹ, EU và Trung Quốc sẽ tiếp tục là thách thức đối với tăng trưởng. vào năm 2023.

Lãi suất tăng trở lại

Đã có dấu hiệu chạy đua lãi suất trong hệ thống ngân hàng thương mại. Lãi suất huy động bình quân và lãi suất cho vay bình quân tăng đều. Theo báo Nhân công, hàng loạt ngân hàng thương mại lớn nhỏ trong hệ thống đồng loạt niêm yết lãi suất huy động tăng 0,5%, thậm chí 1% với các kỳ hạn khác nhau (chủ yếu từ 6-12 tháng). Các ngân hàng thương mại trong danh sách nêu trên như ABBank, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Techcombank, Kienlongbank, Sacombank, SEA Bank, …

Biểu đồ trực tuyến Lãi suất liên ngân hàng Hợp đồng tiền gửi kỳ hạn qua đêm 13/9 (Nguồn: Đầu tư)

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng lên mức cao nhất trong vòng 7 năm qua là 6,88% vào ngày 7 tháng 9. Chênh lệch lãi suất liên ngân hàng giữa USD và VND đã tăng lên 4,4%.

Trước động thái đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bơm tiền trên OMO để ổn định hệ thống. Trong báo cáo chiến lược mới công bố, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) ước tính NHNN đã bán ra khoảng 21 tỷ USD kể từ đầu năm 2022 từ dự trữ ngoại hối, tương đương 19% tổng dự trữ. Điều đó mang lại dự trữ hiện tại ước tính khoảng 89 tỷ đô la và đã giảm tỷ lệ bao phủ nhập khẩu xuống còn khoảng 12 tuần.

Việc bán mạnh ngoại tệ vừa để giảm lãi suất liên ngân hàng đang có dấu hiệu căng thẳng, vừa để ổn định tỷ giá đang leo thang. Tuy nhiên, xu hướng diễn biến tiêu cực (leo thang), khó kiểm soát lãi suất và lạm phát tiền đồng có thể buộc NHNN phải sớm nới tỷ giá trung tâm (tỷ giá hành chính), tăng lãi suất. miễn giảm. ACBS dự báo NHNN sẽ tăng lãi suất chiết khấu thêm 0,75%, mức tăng này phù hợp với động thái của nhiều ngân hàng thương mại toàn cầu khác.

Tỷ giá đang tiếp tục tăng mạnh, có thể nằm ngoài sự can thiệp của NHNN

21 tỷ USD, tương đương 19% dự trữ ngoại hối, được NHNN bán ra nhằm bình ổn ngoại hối. Nhưng tỷ giá biến động và áp lực mất giá của VND ngày càng lớn.

VND đã giảm giá so với USD khoảng 3,35% trong 12 tháng qua và khoảng 3% so với đầu năm. Vùng đệm duy trì tỷ giá VND (dự trữ ngoại hối) đang mỏng dần, lẩn trong vùng không an toàn, tỷ giá đang có đủ các yếu tố (trong và ngoài nước) để lập kỷ lục phá giá mới trong quý IV / 2022.

Nguyên nhân và bối cảnh kinh tế khiến VND mất giá 1% – 2% trong quý IV / 2022 đến từ: (i) đồng USD tăng giá kỷ lục, USD là đồng tiền có tỷ trọng lớn nhất trong rổ tiền tệ. đồng tiền tính tỷ giá điều hành của NHNN); (ii) Sự mất giá của đồng Nhân dân tệ (CNY) và bất ổn tài chính của Trung Quốc. Việt Nam là nước nhập khẩu lớn nhất từ ​​Trung Quốc và cũng là nước xuất khẩu nông sản mạnh nhất vào nền kinh tế này. CNY cũng là đồng tiền quan trọng trong rổ tiền tệ của NHNN; (iii) Giá thực phẩm và năng lượng toàn cầu; (iv) dòng vốn ngoại đảo chiều, bán ròng trên thị trường chứng khoán trong quý IV / 2022; (v) nhu cầu ngoại tệ cao cho sản xuất và xuất khẩu trong quý IV / 2022.

Tăng trưởng chậm lại và lạm phát cao sẽ là vấn đề của năm 2023

Trên nền tảng tăng trưởng cao của năm 2022, tốc độ tăng trưởng GDP (theo năm) của năm 2023 sẽ phản ứng chính xác hơn với tốc độ tăng trưởng thực tế của nền kinh tế. Ngoài ra, sự suy giảm của các thị trường xuất nhập khẩu quan trọng của Việt Nam như Trung Quốc, Khu vực kinh tế châu Âu, Mỹ sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến xuất khẩu. Việt Nam là nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, với độ mở quá lớn so với các nền kinh tế tương tự trong khu vực, sự suy giảm của thị trường kinh tế toàn cầu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng và ổn định kinh tế. kinh tế trong nước. Trong khi đó, vấn đề toàn cầu, xung đột địa chính trị, rõ ràng không có triển vọng sáng sủa trong ngắn hạn hoặc trung hạn và dài hạn.

Ngoài ra, trong nước, thị trường bất động sản (BĐS) bắt đầu đứng giá ở nhiều phân khúc. Cũng giống như Trung Quốc, bất động sản là lĩnh vực đóng góp lớn vào tăng trưởng và quyết định sự ổn định của thị trường tài chính trong nước. Nhưng dòng vốn vào bất động sản đang bị thắt chặt, bắt đầu từ việc các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hầu như không phát triển thành trái phiếu doanh nghiệp trong những tháng qua, bị kiểm soát chặt chẽ hơn đối với hoạt động này trong khi tín dụng bất động sản vì quá nóng nên đang được giám sát chặt chẽ hơn.

Nợ xấu sẽ gia tăng như một lẽ tất yếu khi bất động sản đình trệ và các chính sách ưu đãi của đại dịch đã hết. Dòng vốn và nền kinh tế thực và tiêu dùng do đó sẽ có chi phí cao hơn (ngoài lãi suất cao hơn, tỷ giá hối đoái cao hơn), tất cả sẽ làm giảm tiêu dùng và hoạt động của nền kinh tế thực. .

Cuối cùng, trong dòng chảy của nền kinh tế toàn cầu, lạm phát của nền kinh tế Việt Nam sẽ nhanh chóng bùng nổ vào năm 2023 để phù hợp với mức độ mất giá của VND. Hiện lãi suất huy động đã tăng mạnh cho thấy thị trường kỳ vọng lạm phát sẽ tăng mạnh trong thời gian tới.

Tất cả những điều trên, một lần nữa, làm xói mòn sự phục hồi và sức sống của các doanh nghiệp trong nước và tiêu dùng của khu vực tư nhân.

Bài viết này chỉ phản ánh quan điểm của tác giả, và không nhất thiết phản ánh quan điểm của NTDVN.

Trương Phi

Bạn nghĩ gì về tin tức này?


Leave a Reply

Your email address will not be published.