Sửa quy định về phí bảo vệ môi trường để khai thác khoáng sản có hiệu quả

Khám phá
Rate this post

(TBTCO) – Bộ Tài chính vừa hoàn thiện, trình Bộ Tư pháp cho ý kiến ​​về dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất tăng phí khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường để hạn chế tình trạng khai thác manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả, khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế.

Tăng chi phí khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường

Để thực hiện Luật phí và lệ phí, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 164/2016 / NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2016 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Qua tổng kết cho thấy, chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đã góp phần vừa đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, vừa tạo sự linh hoạt trong việc thực hiện chính sách phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Về khung phí đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, Nghị định số 164/2016 / NĐ-CP quy định mức thu đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, mức phí từ 1.000 đến 7.000 đồng / m3.

Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường công tác quản lý khai thác khoáng sản. Đặc biệt, để khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế cát, sỏi lòng sông, tại Chỉ thị 38 / CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính rà soát tổng thể chính sách tài chính về khoáng sản. (bao gồm cả chính sách phí) đề xuất điều chỉnh chính sách tài chính phù hợp với thực tế, thúc đẩy phát triển, khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế cát, sỏi lòng sông.

Sửa quy định về phí bảo vệ môi trường để khai thác khoáng sản có hiệu quả

Nguồn: Bộ Tài chính Đồ họa: Văn Chung

Để hạn chế tình trạng khai thác manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả, khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay vì khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, tại dự thảo nghị định này, Bộ Tài chính đề xuất tăng thêm 150%. mức phí tối thiểu và tối đa đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (kể cả cát trắng để bảo đảm tính đồng nhất). Mức phí đề xuất từ ​​1.500 – 10.500 đồng / m3.

Riêng đối với nhóm khoáng sản “đá vôi, xi măng và khoáng sản công nghiệp theo quy định của pháp luật về khoáng sản (Serpentin, barit, bentonit)”: Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Khoáng sản thì chỉ có “đá vôi” thuộc loại khoáng sản. làm vật liệu xây dựng thông thường. Các khoáng sản còn lại không thuộc vật liệu xây dựng thông thường. Do đó, để hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ tăng mức phí tối đa 150%, giữ mức phí tối thiểu theo quy định tại Nghị định số 164/2016 / NĐ-CP. đối với nhóm khoáng sản “đá vôi, xi măng và khoáng sản công nghiệp theo quy luật khoáng sản (Serpentin, barit, bentonit)”.

Được biết, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản (trừ phí thu đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than thuộc ngân sách trung ương) là khoản thu của ngân sách địa phương. Số thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản qua các năm như sau: Năm 2017 là 3.029 tỷ đồng, năm 2018 là 3.448 tỷ đồng, năm 2019 là 3.737 tỷ đồng, năm 2020 là 3.576 tỷ đồng.

Nguồn thu của địa phương để hỗ trợ bảo vệ môi trường

Theo Bộ Tài chính, việc tăng phí khai thác cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường; đá làm xi măng, đá vôi và đá khoáng công nghiệp sẽ hạn chế khai thác loại khoáng sản này và khuyến khích sử dụng các loại vật liệu thay thế, thân thiện với môi trường, phù hợp với chiến lược phát triển tăng trưởng xanh của Việt Nam.

Ngoài ra, dự thảo Nghị định quy định việc kê khai, nộp phí theo số lượng khoáng sản nguyên khai thực tế khai thác trong kỳ nhằm bảo đảm công bằng giữa các doanh nghiệp khai thác, tránh gian lận, giảm chênh lệch thu phí giữa các địa phương có cùng đối tượng khoáng sản khai thác. .

Tại dự thảo nghị định này, Bộ Tài chính đề xuất tăng 150% mức phí tối thiểu và tối đa đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (kể cả cát trắng để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất). ). Mức phí đề xuất từ ​​1.500 – 10.500 đồng / m3.

Đối với quy định công khai hoạt động khai thác, công khai việc thu phí của doanh nghiệp trong dự thảo Nghị định đảm bảo minh bạch để mọi người dân có quyền thông tin và giám sát hoạt động khai thác của doanh nghiệp có đúng quy định của pháp luật hay không. sự cho phép và quy định của nhà nước hay không. Từ đó, người dân có thể phát hiện và trình báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm, tiêu cực; xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh liên quan đến đời sống của người dân nơi diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản.

Về tác động đến thu ngân sách nhà nước, theo Bộ Tài chính, đối với nhóm khoáng sản thu được từ thực hiện các dự án, công trình xây dựng, giao thông (không áp dụng mức thu hồi khoáng sản). 60%) … Ngân sách nhà nước dự kiến ​​sẽ tăng 40% nguồn thu từ người này khi nghị định được ban hành và có hiệu lực.

Đối với khung phí đối với đất, đá, cát, sỏi và khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; Đá vôi, đá sản xuất xi măng và đá khoáng công nghiệp sau khi được điều chỉnh sẽ tăng 150% doanh thu từ khoáng sản này. Theo đó, nguồn thu của các địa phương có khoáng sản này sẽ tăng tương ứng với dự kiến ​​điều chỉnh của dự thảo nghị định.

Ví dụ, tại Nghệ An và Thái Nguyên, mức thu phí khai thác đá vôi, đá xi măng và đá khoáng công nghiệp đến năm 2021 lần lượt là: 56 tỷ đồng và 16 tỷ đồng / năm. áp dụng mức giá tối đa trong khung hiện hành). Như vậy, nếu áp dụng mức tối đa sau khi điều chỉnh, doanh thu của mỗi tỉnh sẽ tăng lần lượt 84 tỷ đồng và 24 tỷ đồng / năm. Đây là nguồn thu ngân sách địa phương đáng kể để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương có hoạt động khai thác khoáng sản.

Xác định rõ nguồn thu của trung ương và địa phương

Về kê khai, nộp phí, quản lý và sử dụng lệ phí, tại Điều 6 và Điều 8 Nghị định số 164/2016 / NĐ-CP quy định chi tiết nội dung kê khai, nộp phí, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc kê khai lệ phí; thời gian và địa điểm kê khai, quyết toán phí; đồng tiền nộp phí và các nội dung khác liên quan đến việc kê khai, nộp phí; quản lý và sử dụng phí. Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, không bao gồm dầu thô và khí thiên nhiên, khí than là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, nhằm hỗ trợ các nội dung cụ thể như: Phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường tại địa phương có hoạt động khai thác khoáng sản; khắc phục tình trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản …

Phí bảo vệ môi trường đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là khoản thu ngân sách trung ương 100% để hỗ trợ đầu tư và bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Ngân sách nhà nước.

Luật Ngân sách nhà nước đã quy định rõ việc quản lý phí nộp ngân sách nhà nước. Theo đó, các khoản thu từ phí, lệ phí được tổng hợp toàn bộ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể. Trường hợp có các khoản thu cần gắn với các nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện.

Nguồn thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí do ngân sách trung ương cấp 100%. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện bằng 100% ngân sách địa phương.

Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương bao gồm: Chi thường xuyên của các bộ, cơ quan khác ở trung ương; các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương được phân cấp. Trong đó có nội dung chi bảo vệ môi trường.

Để đảm bảo nội dung kê khai, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản phù hợp với quy định của pháp luật quản lý thuế, phù hợp với Luật ngân sách nhà nước, tránh trùng lặp nội dung, Bộ Tài chính kiến ​​nghị Dự thảo Nghị định quy định cụ thể như sau: Việc kê khai, nộp phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, không kể dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, được quản lý và sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Phí bảo vệ môi trường đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%, được quản lý và sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Leave a Reply

Your email address will not be published.