Kinh nghiệm xây dựng mô hình quỹ hưu trí của một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam

Khám phá
Rate this post


Hình minh họa. Nguồn: Internet

Ông thấy gì từ kinh nghiệm xây dựng mô hình quỹ hưu trí của Hàn Quốc và Thái Lan?

Quỹ hưu trí được hình thành từ sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm hưu trí (người lao động và người sử dụng lao động) và thực hiện các hoạt động đầu tư để chi trả trợ cấp hưu trí cho người lao động khi có lương hưu. Tại các nước phát triển trên thế giới, Quỹ hưu trí là quỹ đầu tư có quy mô quản lý tài sản lớn nhất trên thị trường (Phạm Ngọc Quang, Trần Phú Việt, 2014).

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa quỹ hưu trí là một tập hợp các tài sản đóng góp vào Quỹ để tài trợ cho các khoản trợ cấp hưu trí của người thụ hưởng. Các thành viên của Quỹ có lợi ích hợp pháp đối với tài sản của Quỹ.

Trong những năm qua, một số nước điển hình như Hàn Quốc, Thái Lan đã xây dựng mô hình quỹ hưu trí với nhiều phương án để người tham gia hưởng lương hưu và chăm sóc y tế khi về già.

Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, hệ thống Quỹ hưu trí ra đời từ năm 1961 với sự xuất hiện của Chương trình thanh toán thôi việc tại các doanh nghiệp có trên 30 lao động. Chương trình này là bắt buộc tại doanh nghiệp và thu nhập hưu trí chỉ được trả một lần khi người lao động nghỉ việc. Tuy nhiên, hạn chế của Chương trình này là tiềm ẩn rủi ro trong trường hợp người sử dụng lao động bị vỡ nợ.

Để khắc phục hạn chế này, một số chương trình tài trợ từ bên ngoài đã ra đời như: Bảo hiểm hưu trí và thu nhập hưu trí. Hai chương trình này giúp đảm bảo quyền lợi cho cả người sử dụng lao động và người lao động khi chẳng may không có khả năng chi trả cho người thụ hưởng. Để đảm bảo chế độ bảo hiểm hưu trí phù hợp với quy mô và loại hình doanh nghiệp, tháng 12 năm 2005, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Đạo luật bảo đảm việc làm về hưu trí.

Theo đó, Luật quy định, doanh nghiệp có từ 5 lao động trở lên phải lựa chọn một trong hai chương trình, gồm: Trả lương thôi việc hoặc trợ cấp hưu trí theo thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. nhân công. Đến tháng 12 năm 2010, Đạo luật An ninh Hưu trí Việc làm đã được sửa đổi để bắt buộc các doanh nghiệp có ít hơn 4 nhân viên tham gia vào Chương trình Thanh toán thôi việc.

Một điểm mới, theo quy định của Chương trình Trợ cấp thôi việc, là người sử dụng lao động tự trả thu nhập hưu trí của người lao động. Tuy nhiên, năm 2011, chính sách miễn giảm thuế có hiệu lực, Chính phủ Hàn Quốc quyết định bãi bỏ chương trình bảo hiểm hưu trí / ủy thác hưu trí, thay thế bằng Chương trình thu nhập hưu trí. tâm trí.

nước Thái Lan

Không giống như cơ chế hưu trí của Hàn Quốc, hệ thống lương hưu của Thái Lan tuân thủ và thực thi nghiêm túc ba trụ cột của Ngân hàng Thế giới (Hình 1). Theo đó, hệ thống hưu trí của Thái Lan bao gồm hưu trí bắt buộc và hưu trí tự nguyện. Đối với chế độ hưu trí bắt buộc được duy trì với 3 trụ cột (I, II, III) lần lượt là Quỹ an sinh xã hội, Quỹ hưu trí Chính phủ và Quỹ hưu trí quốc gia.

Kinh nghiệm xây dựng mô hình quỹ hưu trí của một số nước và khuyến nghị cho Việt Nam - Ảnh 1

Đối với chế độ hưu trí tự nguyện duy trì trụ cột III gồm 2 quỹ gồm: Quỹ tương hỗ, Quỹ tiết kiệm hưu trí. Hình 1 cho thấy đóng góp tiền lương của các Quỹ trong chế độ hưu trí bắt buộc và tự nguyện được quy định linh hoạt theo sự lựa chọn của người sử dụng lao động và người lao động.

Đây cũng là điểm ưu việt của hệ thống hưu trí của Thái Lan, tạo sự thông thoáng cho người tham gia có nhiều lựa chọn khi cân nhắc tham gia Quỹ hưu trí tự nguyện hoặc bắt buộc phù hợp với hoàn cảnh từng trường hợp của người dùng. người sử dụng lao động và người lao động …

Khuyến nghị cho Việt Nam

Ở Việt Nam, Từ năm 1995 – 2019, cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã giải quyết cho 2.559.776 người hưởng chế độ BHXH hàng tháng, trong đó có 2.022.373 người hưởng lương hưu; 10.580.542 lượt người hưởng BHXH một lần, trong đó 8.584.544 lượt người hưởng BHXH một lần; trên 106.443.268 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Đã chi trả 3.202.490 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Hàng tháng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý và tổ chức chi trả kịp thời cho hơn 3,1 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do ngân sách nhà nước và Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả (Điêu Bá Được, 2020).

Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam được hình thành dựa trên sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước trong một số trường hợp quỹ độc lập với ngân sách nhà nước. Đây là quỹ của người lao động, được Nhà nước hỗ trợ trong một số trường hợp và được bảo vệ nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững. Hình thành hệ thống cơ quan BHXH giúp Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện các chế độ BHXH và quản lý quỹ BHXH, tách bạch chức năng quản lý nhà nước và sự nghiệp BHXH.

Trên thực tế, chế độ hưu trí ở Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào quỹ BHXH bắt buộc, trong khi quỹ BHXH tự nguyện chưa thu hút được người lao động tham gia và chưa trở thành lựa chọn tối ưu cho người dân. người lao động. Vì vậy, để duy trì chế độ bảo hiểm hưu trí đảm bảo quyền lợi cho người tham gia, thời gian tới cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH theo hướng quy định rõ hơn chế độ hưu trí bắt buộc, chế độ hưu trí tự nguyện, chế độ hưu trí bổ sung để người tham gia BHXH nắm bắt được quyền lợi của mình. quyền lợi và tính ưu việt của từng chế độ hưu trí khi hưởng lương hưu.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện cách tính lương hưu, bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ, giữa khu vực nhà nước và ngoài nhà nước, hài hòa nguyên tắc đóng – hưởng, chia sẻ giữa nam và nữ. người lương cao với người lương thấp để thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa những người hưởng lương hưu.

Đồng thời, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với nhóm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành HTX không hưởng lương và người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt. tích cực.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến lợi ích của chính sách BHXH đến người lao động, để họ hiểu rõ hơn về trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia BHXH. Tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm mở rộng đối tượng tham gia bắt buộc đối với tất cả người lao động có hợp đồng lao động. Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan liên quan đến lao động, đặc biệt là hệ thống BHXH Việt Nam.

Ba là, chủ động phối hợp với các cơ quan, ngành, nhất là giữa cơ quan BHXH và cơ quan thuế tăng cường giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về đóng BHXH bắt buộc cho người lao động.

Cùng với đó, cải tiến quy trình hoạt động và quản lý thông tin, nâng cao dịch vụ cho khách hàng và minh bạch trong quản lý quỹ.

Bốn là, xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ phục vụ người hưởng và xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu chặt chẽ, bảo mật, bao gồm cả hồ sơ đóng BHXH. Điều này giúp BHXH Việt Nam tổng hợp số liệu thu thập được và tình hình đóng bảo hiểm của từng cá nhân.

* Theo ThS. Trần Thị Thu Huyền – Khoa Du lịch và Khách sạn, Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp.

** Đăng trên Tạp chí Tài chính, ngày 2 tháng 7 năm 2022.

Leave a Reply

Your email address will not be published.