Hiện tượng “Chúa có mắt” (Just-World Phenomenon) trong tâm lý học – Tâm lý học khám phá – Tâm lý học khám phá

Khám phá Social Psychology
Rate this post

Hiện tượng ông trời có mắt (từ gốc là Thế giới công bằng, trong bài viết sẽ dùng cụm từ gần nghĩa với tự nhiên hơn trong tiếng Việt – ND) là xu hướng tin rằng thế giới này là công bằng và có con người. Chúng tôi nhận được những gì họ xứng đáng. Vì dù sao người ta cũng muốn tin rằng Chúa có mắt nên chúng ta luôn tìm cách giải thích hoặc hợp lý hóa những bất công, thường đổ lỗi cho người trong hoàn cảnh đó là nạn nhân.

Hiện tượng thế giới công bằng là xu hướng tin rằng thế giới là công bằng và mọi người nhận được những gì họ xứng đáng. Bởi vì mọi người muốn tin rằng thế giới là công bằng, họ sẽ tìm cách giải thích hoặc hợp lý hóa sự bất công, thường đổ lỗi cho người trong hoàn cảnh thực sự là nạn nhân.1

Nguồn: Đại học RMIT

Hiện tượng này giúp giải thích tại sao đôi khi người ta đổ lỗi cho nạn nhân về những điều tồi tệ xảy ra với họ, ngay cả khi họ không thể kiểm soát được điều gì xảy ra.

Hiện tượng thế giới công bình giúp giải thích tại sao đôi khi người ta đổ lỗi cho nạn nhân về sự bất hạnh của chính họ, ngay cả trong những tình huống mà mọi người không kiểm soát được những sự kiện xảy đến với họ.2

Thuyết “Trời có mắt” và hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân. Thuyết Công bình và Đổ lỗi cho Nạn nhân

Thuyết “Thần có mắt” khẳng định rằng khi ai đó trở thành nạn nhân của những điều tồi tệ, những người khác có xu hướng tìm kiếm những thứ giúp giải thích những tình huống này. Nói cách khác, mọi người có xu hướng tự động tìm kiếm điều gì đó hoặc ai đó để đổ lỗi cho những điều tồi tệ. Nhưng thay vì chỉ cho rằng xui xẻo đơn thuần, người ta nhìn vào hành vi của đối tượng, coi đó như một nguồn gốc đáng trách.

Lý thuyết thế giới công bằng cho rằng khi mọi người trở thành nạn nhân của bất hạnh, những người khác có xu hướng tìm kiếm những điều có thể giải thích hoàn cảnh của họ. Nói cách khác, mọi người có xu hướng tự động tìm kiếm điều gì đó hoặc ai đó để đổ lỗi cho những sự việc không may. Nhưng thay vì chỉ quy kết một sự kiện tồi tệ cho vận rủi, mọi người có xu hướng xem hành vi của cá nhân như một nguyên nhân gây ra lỗi.

Ngược lại, niềm tin này còn khiến người ta nghĩ rằng những điều tốt đẹp sẽ đến với ai đó vì họ là người tốt và xứng đáng được hưởng may mắn, hạnh phúc. Vì vậy, ai càng may mắn thì càng xứng đáng nhận được những điều tốt đẹp hơn. Thay vì quy cho sự may rủi hay sự ưu ái của hoàn cảnh, người ta thường quy những điều tốt đẹp xảy đến với phẩm chất cá nhân của mình. Những người này được đánh giá là thông minh và chăm chỉ hơn những người kém may mắn.

Ngược lại, niềm tin này cũng khiến mọi người nghĩ rằng khi những điều tốt đẹp xảy đến với con người thì đó là bởi vì những cá nhân đó tốt và xứng đáng nhận được may mắn hạnh phúc của họ. Do đó, những người cực kỳ may mắn thường được coi là những người xứng đáng nhận được may mắn của họ hơn. Thay vì cho rằng thành công của họ là do may mắn hoặc hoàn cảnh, mọi người có xu hướng coi tài sản của họ là do các đặc điểm nội tại của cá nhân. Những người này thường được coi là thông minh và chăm chỉ hơn những người kém may mắn.

Ví dụ. Các ví dụ

Một ví dụ kinh điển về khuynh hướng này được tìm thấy trong sách Gióp trong Kinh thánh. Trong đó, Gióp đã phải chịu đựng một loạt tai họa khủng khiếp và có lúc, người bạn cũ của ông nói rằng Gióp hẳn đã làm điều gì tồi tệ nên mới được như thế này. Nghiên cứu được công bố vào năm 2012 cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa quan niệm “Chúa có mắt” và niềm tin vào con người.

Ví dụ kinh điển về khuynh hướng này được tìm thấy trong sách Gióp trong Kinh Thánh. Trong đoạn văn, Gióp phải chịu một loạt tai họa khủng khiếp và có lúc người bạn cũ của ông cho rằng Gióp phải làm điều gì đó khủng khiếp mới đáng phải chịu những bất hạnh của mình. Nghiên cứu được công bố vào năm 2012 đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa quan điểm thế giới công bằng và tôn giáo.3

Nhiều ví dụ hiện đại hơn về hiện tượng này có thể được tìm thấy ở nhiều nơi. Người nghèo có thể bị đổ lỗi cho hoàn cảnh của chính họ và nạn nhân của tấn công tình dục thường bị đổ lỗi khi ai đó tấn công họ, vì nhiều người tin rằng chính hành vi của nạn nhân mới là thủ phạm chính. đã gây ra vụ tấn công.

Nhiều ví dụ hiện đại hơn về hiện tượng thế giới công bình có thể được nhìn thấy ở nhiều nơi. Người nghèo có thể bị đổ lỗi cho hoàn cảnh của họ và nạn nhân của tấn công tình dục thường bị đổ lỗi cho cuộc tấn công của họ, vì những người khác cho rằng chính hành vi của nạn nhân đã gây ra vụ tấn công.

Nguồn: The Jakarta Post

Giải thích. Giải thích

Vậy tại sao điều này xảy ra? Có thể có một số giải thích như sau:

Vậy tại sao hiện tượng thế giới công bình lại xảy ra? Có một số giải thích khác nhau đã được đề xuất để giải thích nó:

– Sợ phải đối mặt với sự tổn thương. Mọi người không muốn nghĩ đến hoặc đặt mình vào vị trí của một nạn nhân của một tội ác bạo lực. Vì vậy, khi họ nghe về một vụ việc như hành hung hoặc cưỡng hiếp, họ có thể cố gắng đổ lỗi cho hành vi của nạn nhân. Điều này cho phép họ tin rằng họ có thể tránh trở thành nạn nhân chỉ bằng cách tránh những gì người kia đã làm.

Nỗi sợ hãi khi phải đối mặt với sự tổn thương. Mọi người không thích nghĩ về việc mình là nạn nhân của một tội ác bạo lực. Vì vậy, khi họ nghe về một sự kiện chẳng hạn như một vụ tấn công hoặc một vụ cưỡng hiếp, họ có thể cố gắng đổ lỗi cho sự kiện đó về hành vi của nạn nhân. Điều này cho phép mọi người tin rằng họ có thể tránh trở thành nạn nhân của tội phạm chỉ bằng cách tránh các hành vi của nạn nhân trong quá khứ.2

Mong muốn giảm bớt lo lắng. Một cách giải thích khác cho hiện tượng này là mọi người muốn giảm bớt sự lo lắng do những bất công gây ra. Bằng cách tin rằng đối tượng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tồi tệ xảy ra với mình, mọi người có thể tiếp tục giữ vững niềm tin rằng thế giới là bình đẳng và công bằng.

Mong muốn giảm thiểu lo lắng. Một lời giải thích khả dĩ khác cho hiện tượng thế giới công bằng là mọi người muốn giảm bớt sự lo lắng do những bất công của thế giới gây ra. Tin rằng cá nhân hoàn toàn chịu trách nhiệm về bất hạnh của họ, mọi người có thể tiếp tục tin rằng thế giới là công bằng và công bằng.

Ưu điểm và nhược điểm. Ưu và nhược điểm

Hiện tượng Chúa có mắt quả thực có một số lợi ích. Giống như các dạng thiên vị nhận thức khác, hiện tượng này giúp bảo vệ lòng tự trọng, giúp kiểm soát nỗi sợ hãi và cho phép mọi người duy trì thái độ lạc quan về thế giới.

Hiện tượng thế giới công bình có một số lợi ích. Giống như các dạng thiên vị nhận thức khác, hiện tượng này bảo vệ lòng tự trọng, giúp kiểm soát nỗi sợ hãi và cho phép mọi người duy trì sự lạc quan về thế giới.

Rõ ràng, xu hướng này cũng có nhiều mặt trái lớn. Khi đổ lỗi cho nạn nhân, chúng ta không thừa nhận tình hình và các yếu tố khác góp phần vào những điều tồi tệ xảy ra với nạn nhân. Ngoài ra, nghiên cứu được công bố vào năm 2018 đã chỉ ra mối liên hệ giữa niềm tin cho rằng Chúa có mắt và những hành vi lừa dối. Thay vì thể hiện sự đồng cảm, hiện tượng này đôi khi có thể dẫn đến sự thờ ơ hoặc thậm chí khinh thường những người đang cần.

Rõ ràng, xu hướng này cũng có một số mặt trái lớn. Bằng cách đổ lỗi cho nạn nhân, người ta không thấy được tình hình và các biến số khác đã góp phần gây ra bất hạnh cho người khác như thế nào. Ngoài ra, nghiên cứu được công bố vào năm 2017 đã chỉ ra mối liên hệ giữa niềm tin vào lý thuyết thế giới công bằng và hành vi không trung thực. Thay vì bày tỏ sự đồng cảm, hiện tượng thế giới công bình đôi khi khiến mọi người không quan tâm hoặc thậm chí khinh miệt những cá nhân gặp khó khăn.

Nguồn: The Milwaukee Independent

Sự kết luận. Lời kết

Hiện tượng đôi mắt của Chúa có thể giúp giải thích tại sao đôi khi con người không thể giúp đỡ hoặc cảm thông với những người vô gia cư, hoặc nạn nhân của bạo lực. Bằng cách đổ lỗi cho nạn nhân về những gì họ đã trải qua, mọi người đang bảo vệ tầm nhìn của họ về một thế giới an toàn, công bằng, nhưng mọi thứ đều phải trả giá.

Hiện tượng thế giới chính đáng có thể giải thích tại sao đôi khi mọi người không giúp đỡ hoặc cảm thương những người vô gia cư, những người nghiện ngập hoặc những nạn nhân của bạo lực. Bằng cách đổ lỗi cho họ về những bất hạnh của chính họ, mọi người bảo vệ quan điểm của họ về thế giới là một nơi an toàn và công bằng, nhưng với một cái giá đáng kể cho những người cần.

Có thể khó khăn để vượt qua sự thiên vị nhận thức này, nhưng nhận ra sự tồn tại của nó là một điều tốt. Khi đưa ra các quy định, hãy tập trung vào tất cả các yếu tố tạo nên tình huống. Điều này bao gồm việc kiểm tra hành vi của đối tượng cũng như những thứ như yếu tố môi trường, áp lực xã hội và kỳ vọng văn hóa.

Sự thiên lệch nhận thức này có thể khó khắc phục, nhưng nhận thức được nó có thể giúp ích. Khi đưa ra các quy định, hãy tập trung vào việc xem xét tất cả các yếu tố của tình huống. Điều này bao gồm tính toán đến hành vi của một người cũng như những thứ như yếu tố môi trường, áp lực xã hội và kỳ vọng văn hóa.

Tham khảo. Nguồn bài viết

Hiệp hội tâm lý Mỹ. Giả thuyết thế giới công chính.

Fox CL, Elder T, Gater J, Johnson E. Mối liên hệ giữa niềm tin của thanh thiếu niên vào một thế giới công bằng và thái độ của họ đối với nạn nhân bị bắt nạt. Br J Giáo dục Psychol. 2010; 80 (Tr 2): 183-98. doi: 10.1348 / 000709909X479105

Kaplan H. Niềm tin vào một thế giới công bằng, tôn giáo và đổ lỗi cho nạn nhân. Lưu trữ Tâm lý học Tôn giáo / Archiv fü. 2012: 34 (3): 397-409. doi: 10.1163 / 15736121-12341246

Nartova-bochaver S, Donat M, Rüprich C. Hạnh phúc chủ quan từ quan điểm chỉ là thế giới: Phương pháp tiếp cận đa chiều trong mẫu sinh viên. Psychol phía trước. 2019; 10: 1739. doi: 10.3389 / fpsyg.2019.01739

Wenzel K, Schindler S, Reinhard MA. Niềm tin chung vào một thế giới công bằng có liên quan tích cực với hành vi không trung thực. Psychol phía trước. 2017; 8: 1770. doi: 10.3389 / fpsyg.2017.01770

Nguồn: https://www.verywellmind.com/what-is-the-just-world-phenomenon-2795304

Như Trang.

Leave a Reply

Your email address will not be published.