Chống thất thu thuế TMĐT: Cần có giải pháp pháp lý chặt chẽ và quyết liệt hơn

Khám phá
Rate this post

(TBTCO) – Thời gian qua, công tác quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác quản lý thuế đối với lĩnh vực kinh doanh này còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có những khoảng trống pháp lý cần được điều chỉnh, bổ sung. PGS. PGS.TS Lê Xuân Trường – Trưởng khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính), nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN.

PV: Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cũng như đặc thù của nền kinh tế số đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý thuế (QLT), chống thất thu thuế đối với hoạt động này. Bạn nghĩ cần phải có những giải pháp nào?

PGS. PGS.TS Lê Xuân Trường: Hành lang pháp lý về quản lý thương mại điện tử đã cơ bản hoàn thiện, tạo nền tảng vững chắc cho công tác quản lý lĩnh vực này. Tuy nhiên, vẫn còn một số khía cạnh pháp lý cần được hoàn thiện hơn nữa để nâng cao hiệu quả của QMS cho thương mại điện tử xuyên biên giới và các dịch vụ kỹ thuật số.

Chống thất thu thuế TMĐT: Cần có giải pháp pháp lý chặt chẽ và quyết liệt hơn
PGS. PGS.TS Lê Xuân Trường

Thứ nhất, theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của Việt Nam, cơ sở thường trú được định nghĩa là cơ sở sản xuất kinh doanh mà qua đó doanh nghiệp nước ngoài thực hiện toàn bộ hoặc một phần hoạt động của mình. sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Ý tưởng tương tự cũng được ghi nhận trong các hiệp định thuế song phương giữa Việt Nam và các nước. Cụm từ “cơ sở sản xuất – kinh doanh” được giải thích cụ thể là gắn với không gian cố định như chi nhánh, văn phòng đại diện, kho hàng, công trình xây dựng,… Điều này dẫn đến khả năng thành lập các công ty đa quốc gia. Các quốc gia hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử và kinh doanh nội dung số sử dụng không gian mạng như một cách để tránh việc hình thành các cơ sở thường trú để trốn thuế tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Vì vậy, sắp tới, việc sửa đổi định nghĩa về cơ sở thường trú trong Luật thuế TNDN là cần thiết. Đồng thời, khẩn trương ký kết hiệp định thuế đa phương để sửa đổi một số quy định của các hiệp định thuế song phương, trong đó có quy định về cơ sở thường trú.

Thứ hai, như thông lệ ở các nước khác, thuế giá trị gia tăng (VAT) ở Việt Nam được đánh theo nguyên tắc đến đích. Theo đó, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam. Trên thực tế, các vướng mắc khi xác định đối tượng chịu thuế đối với một số sản phẩm vô hình và dịch vụ kỹ thuật số được cung cấp trên internet (trừ quảng cáo trên internet và đào tạo trực tuyến được quy định riêng) đã nảy sinh vướng mắc. ).

Điều này đặt ra yêu cầu trong thời gian tới phải sửa đổi, bổ sung các quy định về đối tượng chịu thuế GTGT đối với tất cả các sản phẩm, dịch vụ này. Ngoài ra, về lâu dài, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định pháp luật về thủ tục kê khai, nộp thuế GTGT và các loại thuế tiêu thụ khác theo hướng thuế được tính, thu tự động gắn với thời gian phát sinh. nghĩa vụ thuế cho phù hợp với đặc thù của hoạt động kinh tế số. Hệ thống tự tính thuế theo tháng / quý hiện nay cần tiếp tục duy trì bổ sung song song với hệ thống tự động tính thuế.

Thứ ba, cần bổ sung trường hợp sàn giao dịch thương mại điện tử có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay cho cá nhân. Theo đó, đối với các trường hợp sau, sàn giao dịch thương mại điện tử phải kê khai, khấu trừ và nộp thuế thay cho cá nhân: Sàn giao dịch thương mại điện tử cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán; Sàn giao dịch thương mại điện tử thỏa thuận với cá nhân về việc đặt hàng trực tuyến; Sàn giao dịch thương mại điện tử tham gia điều hành và kiểm soát hoạt động giao hàng và thanh toán của người mua đối với cá nhân.

Nguồn: Tổng cục thuế Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Tổng cục thuế. Đồ họa: Văn Chung

Trường hợp thứ nhất, sàn giao dịch thương mại điện tử với tư cách là tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ khấu trừ thuế. Trách nhiệm này tương tự như trách nhiệm của các ngân hàng thương mại và các trung gian thanh toán khác và sở giao dịch hoàn toàn có đủ điều kiện để thực hiện trách nhiệm này.

Trong trường hợp thứ hai, điều kiện thực tế cũng cho phép sàn giao dịch thương mại điện tử thực hiện trách nhiệm này vì sàn giao dịch thương mại điện tử kiểm soát dòng tiền thanh toán từ người mua sang người bán.

Thứ tư, cần bổ sung cụ thể vào Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý chất lượng loại thông tin cung cấp, phương thức và thời hạn cung cấp thông tin của cá nhân trong trường hợp sàn giao dịch thương mại điện tử không kê khai, nộp thuế. thay mặt cho khách hàng. riêng biệt, cá nhân, cá thể. Đồng thời, xác định rõ giới hạn trách nhiệm bảo mật thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan để vừa chống thất thu thuế, vừa đảm bảo lợi ích hợp pháp của cá nhân kinh doanh thương mại điện tử.

Thứ năm, cần bổ sung vào quy định của pháp luật về thông tin và truyền thông trách nhiệm của mạng xã hội trong việc cung cấp thông tin về hoạt động quảng cáo nhằm mục đích kinh doanh cá nhân trên mạng xã hội. Đây là cơ sở để cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng công nghệ thông tin và các công nghệ hiện đại khác để thực hiện quản lý thuế theo quy định của pháp luật.

4 khó khăn trong quản lý thuế thương mại điện tử

“Khó khăn đầu tiên là xác định đối tượng nộp thuế; thứ hai là xác định giao dịch làm căn cứ tính thuế; thứ ba là khả năng xói mòn cơ sở tính thuế; thứ tư là việc xác định cơ sở tính thuế; thứ năm là không phân biệt rõ loại thu nhập làm căn cứ tính thuế – PGS.TS Lê Xuân Trường.

PV: Ngoài việc hoàn thiện hành lang pháp lý, theo ông, cần có những giải pháp nào khác để chống thất thu thuế trong lĩnh vực kinh doanh này?

PGS. PGS.TS Lê Xuân Trường: Cần sử dụng công nghệ cao để nâng cao hiệu quả quản lý thương mại điện tử và các dịch vụ số xuyên biên giới. Như đã phân tích ở trên, những khó khăn, thách thức trong quản lý thương mại điện tử và dịch vụ số xuyên biên giới xuất phát từ đặc thù của mô hình kinh doanh này là gắn với công nghệ hiện đại; Đồng thời, kết quả chống thất thu thuế từ hoạt động TMĐT thời gian qua còn gắn với việc hoàn thiện hành lang pháp lý tạo nền tảng để cơ quan thuế phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng công nghệ để kiểm soát TTĐT. giao dịch thương mại. Điều này cho thấy, để nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với thương mại điện tử và dịch vụ số xuyên biên giới, cần phải ứng dụng công nghệ ở mức độ ngày càng cao trong công tác quản lý.

PV: Cảm ơn ngài!

Leave a Reply

Your email address will not be published.